Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Quy mới nhất chế sử dụng chữ ký số cần bắt nguồn từ thực tiễn.

Bất cứ việc gì đều phải có sức ép mới có động lực, việc ứng dụng CKS trong các cơ quan cũng phái xuất phát từ nhu cầu thực tại và sức ép cách tân thủ tục hành chính thay vì cứ tuyên truyền khẩu và đồng thuận với nhau

Quy chế sử dụng chữ ký số cần bắt nguồn từ thực tiễn

Việc định danh cá nhân dùng và trách nhiệm của họ khiến công tác cấp, thu hồi chứng thư số, nâng cấp kỹ thuật… dễ dàng thuận lợi.

Đồng thời việc định danh cá nhân sẽ chỉ rõ bổn phận của các thuê bao được cấp chứng thư số, CKS trong hoạt động nghiệp vụ của mình. Tuy nhiên, do những khó khăn về tài chính cộng với nhận thức chưa đích thực đầy đủ, khiến việc triển khai áp dụng CKS trong các Bộ, ban ngành, cơ quan quốc gia, đặc biệt ở các địa phương còn nhiều hạn chế.

Thí dụ, Bộ Tài chính mà đi đầu là ngành Thuế và Hải quan đang trong quá trình điện tử hóa đã đi đầu trong vận dụng CKS cho hết thảy các giao tế với doanh nghiệp. Nói không quá, nhận thức về vai trò của CKS tại một số đơn vị rất kém, trong khi đó hạ tầng kỹ thuật, các ứng dụng CNTT và hệ điều hành của các cơ quan Đảng và Nhà nước cũng chậm thích ứng và thỉnh thoảng còn không muốn dùng CKS vào trong các vận dụng…   thực tại ứng dụng thúc ép   Trong rất nhiều diễn đàn CNTT-TT, Thứ trưởng Bộ TT-TT Nguyễn Minh Hồng đã khẳng định, để việc khai triển áp dụng CKS trong các cơ quan Đảng, quốc gia thành công, thì hệ thống các văn bản, quy định của Nhà nước trong lĩnh vực này cũng cần phải được nghiên cứu và hoàn thiện, góp phần thực hành mục tiêu giảm thiểu các văn bản bằng giấy má (Đề án 30 về cải cách hành chính).

Về cơ bản, ngành nào dùng nhiều và nhận thức của lãnh đạo tốt thì công tác khai triển áp dụng CKS đạt hiệu quả cao.

Mới đây nhất, ngày 15/3/2013, Bộ Giao thông chuyển vận - một trong những đơn vị tiền phong ban hành quy chế quản lý, sử dụng CKS, chứng thư số và dịch vụ chứng nhận CKS (Quyết định số 645/QĐ-BGTVT ) nội bộ. Cụ thể, khi mỗi Bộ, ngành hợp nhất dùng chung CKS của một tổ chức, doanh nghiệp cung cấp, sẽ tạo sự hợp nhất trong quản lý, tránh mỗi nơi dùng một phách.

Ảnh minh họa. Đơn cử, Bộ Tài chính, ngành Thuế và thương chính do nhiệm vụ thiết thân hệ trọng đến nghiệp vụ hàng ngày khiến việc dùng CKS là bắt buộc và họ triển khai khá tốt. Dự kiến, bộ quy chuẩn về dịch vụ CKS sẽ được lấy quan điểm các Ban, ngành ngay trong năm 2013 này và bổ sung danh mục tiêu chuẩn bắt buộc vận dụng về CKS và dịch vụ chứng thực CKS (Quyết định số 59/2008/QĐ-BTTTT ngày 31/12/2008) có từ trước đó.

Bộ Công an đã dùng CKS tích hợp cho thư điện tử; Bộ Ngoại giao áp dụng CKS cho điều hành tác nghiệp qua mạng. (EFinance số 119 Ngày 15/05/2013) - Chữ ký số (CKS) ngày một trở thành phổ dụng trong đời sống từng lớp do tính tiện ích và khả năng bảo mật của nó.

Trong khi đó, Thông tư 05/2010/TT-BNV của Bộ Nội vụ chỉ dẫn về cung cấp, quản lý và dùng dịch vụ chứng nhận CKS chuyên dùng phục vụ các cơ quan thuộc hệ thống chính trị cũng đã là căn cứ quan trọng để các Bộ, ngành triển khai CKS tại cơ quan mình…   (Hà Nam).

Đồng quan điểm vấn đề này, ông Nguyễn Đăng Đào cho rằng, song hành với nâng cao nhận thức, cách tân thủ tục hành chính thì việc cấp thiết là phải “ép”. Qua đó, ưng chuẩn thực tế ứng dụng CKS của từng Bộ, ngành, Bộ TT-TT sẽ có những tham mưu và sở cứ thực tại xây dựng giả vờ quy chuẩn về dịch vụ CKS cho các Bộ, ngành ứng dụng.

Chính bởi thế, việc cho ra đời quy chế sử dụng CKS nội bộ cần bắt nguồn từ chính thực tại áp dụng của đơn vị.

Tuy nhiên, nhiều bộ dù đã khai triển vận dụng CKS ở những cấp độ khác nhau, nhưng việc cho ra một quy chế dùng CKS nội bộ thì vẫn rất chậm. Trong khi tại các Bộ, ngành khác có sự chậm trễ hơn, do nhiều lí do và thực tại là sự “nhạt thếch” của chính lãnh đạo đơn vị.

Bộ thông báo và Truyền thông (TT-TT) cũng hối thúc các đơn vị cần sớm ban hành quy định dùng CKS trong quy trình hành chính, các quy định hiện hành về ứng dụng CKS trong cơ quan Nhà nước; bộ dụng cụ ký số và bảo mật tài liệu điện tử GCA-01 của Ban Cơ yếu Chính phủ. Nơi sốt sắng, chỗ nhạt hoét!   thực tế việc ứng dụng CKS trong các cơ quan Nhà nước đã được triển khai ở quờ quạng các Bộ, ngành và địa phương.

Tuy nhiên, nhiều Bộ dù vẫn đang triển khai rất mạnh CKS như Bộ Tài chính, nhưng do những đặc thù khác nhau vẫn chưa ban hành được quy chế khai triển CKS nội bộ. Trong khi đó, Ngân hàng quốc gia với Thông tư 12/2011/TT-NHNN hoặc mới nhất là Bộ Giao thông vận chuyển với Quyết định số 645/QĐ-BGTVT quy định về việc quản lý, sử dụng CKS và dịch vụ chứng nhận CKS nội bộ là việc rất cần thiết và đáng hoan nghênh.

Đặc biệt, Bộ Tài chính đã sử dụng thành công hệ thống vận dụng CKS chuyên dùng của Chính phủ vào các giao dịch nội bộ của ngành Tài chính và các phân hệ như: Thuế, Kho bạc, thương chính, Chứng khoán.

Đánh giá tình hình dùng CKS trong cơ quan Đảng, Nhà nước, ông Nguyễn Đăng Đào, Phó Cục trưởng, Cục Quản lý kỹ thuật nghiệp vụ mật mã (Ban Cơ yếu Chính phủ) cho biết: Nhiều đơn vị chậm triển khai do vấn đề nhận thức. Thực tiễn hệ thống CKS đã được triển khai trong dịch vụ chuẩn xác dữ liệu đã được khai triển tại Văn phòng Chính phủ; tại Viện Kiểm sát vô thượng để phục vụ xác thực CKS trong hoạt động chuyên ngành.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục vận dụng CNTT (Bộ TT-TT), việc ban hành quy chế quản lý, dùng CKS, chứng thư số và dịch vụ chứng nhận CKS nội bộ nhằm 3 việc: Xác định rõ tổ chức cung cấp dịch vụ thống nhất toàn ngành; định rõ nghĩa vụ cá nhân với người sử dụng CKS cho mỗi vị trí công tác và quy chế phối hợp đào tạo, ứng phó với sự cố an toàn bảo mật.

Đứng trên giác độ quản lý, ông Nguyễn Thành Phúc thừa nhận việc các Bộ, ngành cho ra đời quy chế quản lý, sử dụng CKS tại các cơ quan quốc gia là việc của quờ quạng các Ban, ngành, Bộ TT-TT với vai trò điều phối chứ không đưa ra bất cứ chuẩn chung nào cho việc này, bởi nhu cầu và áp dụng thực tế về CKS của các Bộ, ngành là hoàn toàn khác nhau.

Đơn cử quy định, giấy má nội bộ phải được số hóa và không in ra, những giấy má chứng nhận tấm phải có con dấu - tất nhiên cán bộ sẽ phải dùng CKS để gửi, trình.

Bộ TT-TT đang gấp rút hoàn thiện một bộ quy chuẩn đầy đủ để có thể đánh giá được nhà cung cấp dịch vụ CKS (CA) của Việt Nam, để CA này có đủ điều kiện tham dự môi trường quốc tế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét